Mười điểm giống và khác nhau trong cấu trúc câu tiếng Anh (phần 6): Bồi dưỡng kỹ năng biên tập tiếng Anh (Viết tiếng Anh học thuật Bảng tin hàng ngàym)

Hồ Thủy Liêm núi Cấm

Mười điểm giống và khác nhau trong cấu trúc câu tiếng Anh (phần 6): Bồi dưỡng kỹ năng biên tập tiếng Anh (Viết tiếng Anh học thuật Bảng tin hàng ngàym)
Kiến nghị:nên sử dụng câu đơn: Danh từ + Động từ + Thụ từ/ Giới hệ từ. Tuy nhiên cần loại trừ các
trường hợp sau.

(a) Dùng Giới hệ từ để mô tả kết cấu câu phức(danh từ+động từ+danh từ+động từ)

(b) Giới hệ từ là điều kiện bắt buộc(xem tại Phần 5)

(c) Ngoài việc dùng giới hệ từ để liên kết hai câu hay hai đoạn văn ra(xem tại phần 6), cố gắng sử
dụng câu đơn. Ngoài ra, cũng nên tránh việc đặt giới hệ từ chỉ thời gian đặt đầu câu.

Dựa quá nhiều vào các thành ngữ hoặc các mẫu câu thường gặp trong sách vở, đồng thời không
thể xác định được trọng điểm câu, là hai nguyên nhân dẫn đến việc bài viết cứng ngắc và không
rõ ràng. Phần này và phần 4, 5 sẽ thảo luận những vấn đề phát sinh khi dịch trực tiếp Trung Anh.
Ngoài ra, cũng sẽ chỉ ra các vấn đề logic do sự khác nhau trong kết cấu câu tiếng Anh và tiếng
Trung. Mặc dù việc dịch trực tiếp từ Trung sang Anh không nhất định là sẽ có sai sót, nhưng khi
người bản địa (Người Đài Loan) đã quen với các cấu trúc câu thường sử dụng, sẽ phát hiện việc sử
dụng mô thức câu tiếng Trung để dịch ra tiếng Anh có thể dẫn đến việc mất đi những ý nghĩa rõ
ràng và trực tiếp. Các độc giả làm sao để có thể bắt đầu sử dụng các hình thức câu khác nhau, biểu
đạt một cách rõ ràng các ý tứ của mình? Không ít người (người Đài Loan) hay sử dụng Giới hệ từ
đặt lên đầu câu, có mấy loại như sau:

(a) Cụm giới hệ từ chỉ thời gian(Phần 3)

(b) Cụm giới hệ từ biểu thị so sánh tính chất(Phần 4)

(c) Cụm giới hệ từ biểu thị tình huống đặc thù (Như địa điểm, điều kiện có giới hạn trong kĩ thuật
hay xã hội, mục đích và kết quar)(Phần 5)

(d) Cụm giới hệ từ biểu thị sự chuyển ngoặt (Chuyển tiếp). Khi sử dung cụm giới hệ từ biểu thị sự
chuyển ngoặt tại điểm đánh dấu kết quả và ảnh hưởng, nguyên nhân và hiệu ứng, tuần tự sự kiện và
mối liên hệ của sự so sánh tương ứng sẽ có tác dụng rất lớn. Hy vọng độc giả khi sử dụng hình thức
giới hệ từ này sẽ làm cho bài viết trở nên mềm mại. Tuy nhiên,những loại giới hệ từ khác đứng đầu
câu (gặp tại phần 3 đến phần 5), có lúc sẽ làm mất đi ý chính của câu. Chúng ta (người Đài Loan)
thường đưa giới hệ từ đặt ở đầu câu ngoài việc bị ảnh hưởng của logic tiếng mẹ đẻ ra, cũng do thói
quen sử dụng mẹ đẻ.

Các tác giả viết bài báo kĩ thuật trong nước thường không rõ tác dụng chủ yếu của việc đặt một số
loại Giới hệ từ ở đầu câu là do chưa thực sự nắm bắt được tác dụng của chúng. Do vậy,Các tác giả
thường hay để các giới hệ từ không cần thiết ở phần quan trọng hay phần đầu của câu,khiến cho
người đọc (người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh) cảm thấy bài viết không rõ ràng. Nếu như chủ đề
của câu hoặc trọng điểm câu không rõ ràng, người đọc sẽ rất khó nhận ra được ý nghĩa chủ yếu của
bài viết.

Trong ngữ pháp tiếng Trung, không có sự phân biệt thể, quá khứ – hiện tai – tương lai. Thông
thường, khi nói hoặc viết, câu không nói rõ đang là thể quá khứ – hiện tai hay tương lai, do đó trong
tiếng Trung thường để cụm giới hệ từ chỉ thời gian đặt ở đầu câu. Các tác giả khi dịch Trung Anh
thường quên các quy tắc động từ thể quá khứ, hiện tại và tương lai, mặt khác vẫn thường để Giới
hệ từ chỉ thời gian hoặc phó từ ở đầu câu.

Mặc dù tiếng Anh đã có các động từ thời thái thể quá khứ – hiện tại – tương lai, nhưng các tác giả
vẫn quen đưa một số giới từ thời gian không cần thiết đặt ở đầu câu (tiếng Anh). Cụm giới từ thời
gian thường được dùng như các từ bắt đầu câu như “during”,“unitil”,“as”,“before”,“after”,“when”,“since”,và“whenever”.v..v..Tuy

nhiên, khi dùng để biểu thị tuần tự sự kiện hoặc sự chuyển tiếp, sử dụng giới từ thời gian sẽ trở nên
cần thiết. Nói tóm lại, trừ phi biểu thị sự chuyển tiếp thì không nên để cụm giới từ chỉ thời gian ở
đầu câu.

Nội dung bài viết: Các khái niệm sử dụng hình thức câu đơn giản “Danh từ + Động từ + Thụ từ/
Giới hệ từ) và “đưa trọng điểm đặt ở đầu câu” là đồng nhất. Khi đặt các trọng đặt ở đầu câu giúp
cho người đọc nhanh chóng tìm ra được thứ họ cần.

1. Power Point Presentations:
www.chineseowl.idv.tw/PowerPoint/workshop_2.ppt
2. Các bài viết:
Các vấn đề thường gặp trong công trình bài viết tiếng Anh
www.chineseowl.idv.tw/html/n.htm

Kết hợp viết văn bản “chính xác” và “rõ ràng“ (Đào tạo chỉnh sửa trong viết văn bản tiếng anh)Sử dụng thường xuyên thì chủ động (Đào tạo chỉnh sửa trong viết văn bản tiếng anh)

Editing for Conciseness and Clarity in an ESL Writing Class

3. Sách:
Sổ tay bồi dưỡng kỹ năng biên tập tiếng Anh (phần Nâng cao)

Video giảng dạy viết bài báo tiếng Anh (6) Academic Publishing
Theo dõi video này để tăng cường khả năng viết bài báo tiếng Anh
Tổ chức lớp viết báo khoa học Kỹ thuật đăng trên tạp chí quốc tế (2) (phần 2)
Thực hiện

Mục tiêu nghiên cứu (Research objective) : Mô tả mục tiêu của nghiên cứu đề xuất của bạn và bao gồm các đặc điểm chính riêng biệt của nghiên cứu để đạt được mục tiêu nghiên cứu , điều mà đã không được thực hiện trong nghiên cứu trước đây ( một câu )

Phương pháp để đạt được mục tiêu nghiên cứu (Methodology to achieve research objective) : Mô tả ba hoặc bốn bước chính để đạt được mục tiêu nghiên cứu của bạn.

Kết quả dự kiến ( Anticipated results) : Mô tả các kết quả định lượng mà bạn hy vọng sẽ đạt được trong nghiên cứu của bạn.

Đóng góp trong lĩnh vực lý thuyết và thực tiễn (Theoretical and practical contribution to field) : Mô tả cách thức phương pháp hoặc kết quả nghiên cứu đề xuất của bạn sẽ đóng góp về mặt lý thuyết trong lĩnh vực nghiên cứu, quy luật và cũng đóng góp thiết thực trong sản xuất, ngành công nghiệp dịch vụ.

*Mục tiêu nghiên cứu: Based on the above, we should develop novel CDR scheme, capable of recovering a clock efficiently to increase the pocket efficiency of PON systems.
*Phương pháp để đạt được mục tiêu nghiên cứu: To do so, a hybrid phase and delay lock loop architecture can be derived, consisting of a VCO, voltage controlled delay line, phase detector, charge pump and low pass filter. HSPICE can then be simulated. Next, a prototype can be designed to demonstrate the effectiveness of the CDR scheme.
*Kết quả dự kiến: As anticipated, the proposed monolithic scheme can acquire the sampling phase well within 50 ns in a 2.5 Gbps system such as PON.
*Đóng góp trong lĩnh vực lý thuyết và thực tiễn: In addition to averting frequency jittering greater than 6MHz, i.e. 4800ppm, the proposed CDR scheme can facilitate a more aggressive design, with an even lower loop gain.

Lac Hong University Writing Center

Source:

  • 有效撰寫英文工作提案 柯泰德
  • 有效撰寫英文工作提案 柯泰德
  • Seminars@柯泰德英文論文編修訓練部落格
  • 研究所科技英文寫作課程 (柯泰德)
  • 有效撰寫英文工作提案 柯泰德
  • Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s