Mười điểm giống và khác nhau trong cấu trúc câu tiếng Anh (phần 9): Bồi dưỡng kỹ năng biên tập tiếng Anh (Viết tiếng Anh học thuật Bảng tin hàng ngàym)

Terraced fields Sa Pa Vietnam

Mười điểm giống và khác nhau trong cấu trúc câu tiếng Anh (phần 9): Bồi dưỡng kỹ năng biên tập tiếng Anh (Viết tiếng Anh học thuật Bảng tin hàng ngàym)
Kiến nghị: Sử dụng câu đơn trực tiếp như: “Danh từ + Động từ + Túc từ/Giới từ”. Nhưng, giới từ (phó từ hoặc cụm từ liên quan) khi liên kết hai câu hoặc hai đoạn biểu thị tính chất liên kết, thì lại phổ biến và hữu ích hơn.
Nội dung bài viết: Trong bài trước, chúng ta đã chỉ ra một số khác biệt cơ bản logic trong kết cấu câu tiếng Anh và tiếng Việt. Tiếng Việt thường dùng những từ ngữ cụ thể đặt ở đầu câu để dẫn giải kết quả (hoặc sự thực), thường sẽ làm cho toàn bộ nội dung của bài báo không trực tiếp, đây là kết quả của việc liên tiếp đặt ý chính và phần trọng tâm ở cuối câu. Hình thức của một câu đơn, như “Danh từ + Động từ + Túc từ/Giới từ”, thì có thể giúp cho người đọc nhanh chóng và dễ dàng thấy được ý chính và nội dung bài viết.

Nhưng, cứ sử dụng câu đơn “Danh từ + Động từ + Túc từ/Giới từ” có lúc cũng sẽ tạo ra một vài vấn đề không thích hợp. Bởi vì sử dụng nhiều mẫu câu đơn “Danh từ + Động từ + Túc từ/Giới từ” như thế không chỉ làm giới hạn câu, mà còn làm cho các câu và các đoạn trong toàn bài viết thiếu tính liên kết. Kiểu câu như vậy sẽ “quá trực tiếp”, đó chính là nguyên nhân khác làm cho bài viết không có sự liên kết với nhau, dẫn đến bài viết “rời rạc”.

Mục đích của những tác giả trong nước thường là mượn trạng từ để nối hai câu hoặc hai đoạn với nhau. Tác giả bài viết khoa học kỹ thuật thường đặt ở đầu câu, dùng trạng từ để nối với câu hoặc đoạn trước:
Tuy nhiên, trạng từ hoặc cụm từ kết nối có thể dùng để nối hai câu với nhau, tác giả trong nước nên tiếp tục hình thành thói quen dùng giới từ (đặt ở đầu câu) để biểu thị sự kết nối. Tính chặt chẽ của việc sử dụng cụm giới từ kết nối để liên kết các câu và đoạn văn trong bài viết sẽ hay hơn so với việc dùng trạng từ liên kết.

Hạn chế sử dụng cụm giới từ (hoặc phó từ) biểu thị sự liên kết sẽ làm cho bài viết trôi chảy hơn, như vậy có thể làm giảm bớt sự “rời rạc” trong bài viết, tất cả các câu trong bài viết đều độc lập, và không có tính liên kết chặt chẽ giữa các câu và các đoạn! Khi tác giả muốn miêu tả trình tự trước sau của một sự việc phát sinh, ta sẽ phát hiện rằng cho dù việc giúp cho người đọc dễ dàng tiếp cận từng bước từng bước một, hoặc là trong việc thành lập sự liên kết trong suốt bài viết, cụm giới từ liên kết đều có thể cung cấp những chức năng tuyệt vời.

Như vậy, tác giả của các bài báo kỹ thuật trong nước có thể kiểm soát được bản thân trong việc dùng câu tiếng Anh để viết bài. Tại sao vậy? Bởi vì, lúc này ta đã có thể phân biệt được những cụm giới từ đã được các tác giả trong nước sử dụng qua, như: cụm giới từ biểu thị thời gian (Bài 3); cụm giới từ biểu thị sự so sánh (Bài 4); cụm giới từ biểu thị cụ thể (Bài 5) vị trí – điều kiện (a) giới hạn ngành kỹ thuật (b) giới hạn ngành phi kỹ thuật, mục đích – nguyên nhân. Cụm giới từ biểu thị sự kết nối.

Một tác giả có khả năng phân biệt được công dụng và chức năng của các cụm giới từ khác nhau được trình bày bên trên không chỉ có thể đưa ý chính ra đặt ở đầu câu khi viết, mà còn giúp cho các tác giả hiểu được sự đóng góp của mỗi cụm giới từ khác nhau trong việc đưa ra các bài viết về công nghệ.

1. Power Point Presentations:
www.chineseowl.idv.tw/PowerPoint/workshop_2.ppt
2. Các bài viết:
Các vấn đề thường gặp trong công trình bài viết tiếng Anh
www.chineseowl.idv.tw/html/n.htm

Kết hợp viết văn bản “chính xác” và “rõ ràng“ (Đào tạo chỉnh sửa trong viết văn bản tiếng anh)Sử dụng thường xuyên thì chủ động (Đào tạo chỉnh sửa trong viết văn bản tiếng anh)

Editing for Conciseness and Clarity in an ESL Writing Class

3. Sách:
Sổ tay bồi dưỡng kỹ năng biên tập tiếng Anh (phần Nâng cao)

Video giảng dạy viết bài báo tiếng Anh (2): Writing The Submission Cover Letter
Theo dõi video này để tăng cường khả năng viết bài báo tiếng Anh
Viet OWL – Chỉnh sửa báo Khoa học đăng trên tạp chí Quốc tế
Tổ chức lớp viết báo khoa học đăng trên tạp chí quốc tế (Ví dụ: ) (1) (phần 1)

Nền tảng

*Thiết lập các đề xuất nghiên cứu (Setting of research proposal): Mô tả một xu hướng phổ biến, phát triển hoặc hiện tượng trong lĩnh vực của bạn để người đọc có thể hiểu được bối cảnh mà bạn đề xuất nghiên cứu đang được thực hiện.

*Vấn đề nghiên cứu (Research problem) : Mô tả các hạn chế chính hoặc thất bại của các nghiên cứu trước đây hoặc các phương pháp đã nghiên cứu khi giải quyết các xu hướng, phát triển hoặc hiện tượng đã nêu.

*Đặc điểm kỹ thuật định lượng của vấn đề nghiên cứu (Quantitative specification of research problem): Định lượng hoặc đưa ra một ví dụ về vấn đề nghiên cứu được trích dẫn trong tài liệu tham khảo trước đó.

*Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu (Importance of research problem) : Mô tả các hậu quả về mặt lý thuyết và thực tế nếu không giải quyết vấn đề nghiên cứu.

Ví dụ: Biotechnology

Thiết lập các đề xuất nghiên cứu: As an island, Taiwan has abundant seafood available for consumption. Of particular concern is Vibrio paraemolyticus, an epidemic pathogen commonly found in seafood. This pathogen can cause sitotoxism, a disease with an incidence rate in Taiwan that is the highest worldwide. Often a result of insufficiently cooked seafood, sitotoxism is especially prevalent from May to August, when a large amount of seafood is consumed islandwide.

Vấn đề nghiên cứu: As the conventional means of identifying Vibrio paraemolyticus, serotyping is expensive, tedious, and time consuming. Various molecular subtyping methods are also applied to identify an appropriate means of differentiating Vibrio paraemolyticus isolates from other serotypes. However, whether molecular subtyping methods provide a more rapid and sensitive alternative for differentiating among Vibrio paraemolyticus strains is unknown.

Đặc điểm kỹ thuật định lượng của vấn đề nghiên cứu: For instance, serotyping requires seven days before supplying reliable results and, in doing so, is relatively inefficient, thus necessitating the need for a viable alternative.

Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu: The inability to develop a more reliable and efficient means of identifying Vibrio paraemolyticus will lead to an increasingly higher incidence rate of sitotoxism in Taiwan.

Source:

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s